Huyện Quế Phong có 08 bản có người Mông tại xã Tri Lễ, trong đó nổi tiếng và được ưa chuộng nhất là lò rèn dao ở Bản Huôi Mới 2 (Nơi trước đây nổi tiếng với 4 không: Không điện lưới, không sóng điện thoại, không mạng intertnet, không trạm y tế, không chợ, không nhà công vụ...) là được ưa chuộng nhất.

Nếu người miền xuôi rèn dao búa và các dụng cụ khác hoàn toàn bằng sắt hoặc thép thì với người Mông, cả 2 kiểu rèn này đều không phù hợp. Điểm đặc trưng đầu tiên trong kỹ thuật nghề rèn của người Mông chính là sự kết hợp giữa sắt và thép phần lưỡi phải dùng sắt vụn bó lại để nung, phần sắt để riêng, phần thép nẹp ở giữa phần sắt vụn rồi rèn cho thành một. Con dao khi mài ra thì phần lưỡi là thép còn phần trên chủ yếu là sắt. Người ta nẹp thép ở giữa là để khi mài con dao sắc hơn, hai là phần lưỡi cứng hơn thì người ta chặt cây, va vào đâu cũng đỡ mẻ.
Điểm khác biệt thứ 2 trong kỹ thuật nghề rèn của người Mông thể hiện ở chuôi dao. Khi con dao thành hình, phần còn lại được tán mỏng rồi uốn lại thành hình ống để tra cán. Với một số dân tộc khác, con dao đến công đoạn này đã hoàn thành, thì với người Mông, chuôi dao tiếp tục được nung và tán liên tục cho đến khi liền chặt vào nhau. Trong quá trình rèn dao, búa hay cuốc xẻng, việc nung sắt quan trọng, nếu nung non lửa thì dao mềm, dễ cong vênh. Nếu nung quá lửa, con dao sẽ giòn, dễ mẻ, gãy
Thông thường để rèn cần có 2 người, thợ cả tay cầm kẹp, tay cầm cây búa nhỏ, khi khối thép đạt độ đỏ nhất định rút ra để người thợ kia tán búa tạ xuống. Cần tán vào chỗ nào, người thợ cả cầm một cây búa nhỏ, gõ cạch cạch vào chỗ đó; người kia tán búa xuống.
“Tôi dao là phần quan trọng nhất trong nghề rèn của người Mông. Khi dao được nung đỏ đều, người Mông mới từ từ đưa lưỡi dao nhúng vào nước. Cứ như vậy chừng 2-3 lần. Khi lưỡi dao đã nguội và phần sống dao giảm bớt nhiệt, thợ rèn thả toàn bộ con dao vào nước, như vậy làm cho phần lưỡi dao cứng chắc và dần mềm dẻo hơn về phía sống dao, dao sẽ bền hơn.
 
Top